Các loại ghi danh

Phân biệt liệt mặt trung ương và liệt mặt ngoại biên để có hướng chẩn đoán điều trị phù hợp, hiệu quả
Thần kinh
Chuyên Khoa Khác:
Loại khóa học: Bài giảng
Chứng nhận cấp bởi: NONE
Giới thiệu tổng quan Khóa Học:

Liệt mặt ngoại biên (liệt Bell) là bệnh lý thần kinh thường gặp, đặc biệt gia tăng khi thời tiết lạnh, dễ gây méo miệng, nhắm mắt không kín và ảnh hưởng thẩm mỹ, chức năng sinh hoạt. Việc nhận diện sớm triệu chứng, phân biệt với liệt mặt trung ương và can thiệp trong “thời điểm vàng” 72 giờ đầu có ý nghĩa quyết định trong phục hồi và hạn chế di chứng.

Nội dung khóa học:

1. Đại cương liệt mặt ngoại biên (Liệt Bell)

1.1. Tình hình dịch tễ hiện tại

Trong bối cảnh thời tiết nhiệt độ giảm sâu và biến động thất thường, tỷ lệ mắc liệt dây thần kinh số VII ngoại biên (liệt Bell) đang ghi nhận sự gia tăng đột biến. Số liệu thực tế từ các cơ sở chuyên khoa như Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho thấy số lượng bệnh nhân nhập viện tăng mạnh với khoảng 90% các trường hợp khởi phát có liên quan trực tiếp đến yếu tố phơi nhiễm lạnh. Đây là bệnh lý mang tính chất thời điểm rõ rệt, thường bùng phát vào các giai đoạn chuyển mùa hoặc khi nhiệt độ môi trường xuống thấp đột ngột.

bảng phân biệt lâm sàng liệt mặt trung ương và ngoại biên

1.2. Cơ chế bệnh sinh

Tác động của nhiệt độ thấp lên dây thần kinh số VII được giải thích qua cơ chế co mạch và đặc điểm giải phẫu học đặc thù:

Yếu tố giải phẫu: Dây thần kinh số VII đi qua đoạn trong xương đá (ống Fallope), một cấu trúc đường hầm xương hẹp và cứng, không có khả năng giãn nở.

Cơ chế co mạch và phù nề: Khi vùng đầu mặt cổ bị lạnh đột ngột, các mạch máu nuôi dưỡng thần kinh bị co thắt, dẫn đến thiếu máu cục bộ. Tình trạng này làm tăng tính thấm thành mạch và gây phù nề tổ chức quanh dây thần kinh. Trong không gian chật hẹp của ống Fallope, sự phù nề dù nhỏ cũng gây chèn ép cơ học trực tiếp lên dây thần kinh, dẫn đến rối loạn dẫn truyền tín hiệu và gây liệt vận động các cơ bám da mặt.

Yếu tố virus: Nhiễm lạnh cũng là điều kiện thuận lợi làm suy giảm miễn dịch tại chỗ, kích hoạt sự tái hoạt động của virus Herpes simplex type 1 (HSV-1) tiềm ẩn tại hạch gối, làm trầm trọng thêm tình trạng viêm và phù nề chèn ép.

1.3. Nhóm nguy cơ cao và triệu chứng báo trước

Nguy cơ mắc bệnh không đồng đều trong quần thể, tập trung cao ở:

  • Người cao tuổi (do suy giảm dự trữ mạch máu).
  • Bệnh nhân có bệnh nền chuyển hóa (đái tháo đường, tăng huyết áp).
  • Phụ nữ mang thai (đặc biệt 3 tháng cuối và sau sinh do tình trạng giữ nước).
  • Người có tiền sử phơi nhiễm lạnh trực tiếp (gió lùa, điều hòa thổi thẳng vào mặt).

Triệu chứng khởi phát thường bị bỏ qua do kín đáo, bao gồm: đau vùng xương chũm/sau tai, cảm giác tê bì mặt, thay đổi vị giác 2/3 trước lưỡi hoặc tăng thính lực (nghe vang đau tai).

1.4. Thời điểm vàng trong can thiệp điều trị

Mặc dù khoảng 60-70% bệnh nhân có thể hồi phục tự nhiên, nhưng 30-40% trường hợp còn lại đối mặt với nguy cơ di chứng nặng nề (co cứng cơ mặt, đồng vận, liệt tồn dư) nếu không được can thiệp đúng lúc. Cửa sổ điều trị tối ưu được xác định là trong vòng 72 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng. Việc sử dụng corticosteroid liều cao trong giai đoạn này giúp giảm phù nề, giải phóng chèn ép trong ống Fallope và ngăn chặn thoái hóa sợi trục, từ đó tối đa hóa khả năng phục hồi hoàn toàn chức năng vận động và thẩm mỹ cho người bệnh.

Dấu hiệu liệt dây thần kinh số 7

1.5. Triệu chứng

Nhìn

Hai bên mặt không cân đối, các cơ mặt bị kéo về bên lành, nhân trung bị kéo lệch về bên lành. Nửa mặt bên bệnh bất động và nhẽo (giảm trương lực cơ), mất nếp nhăn trán và nếp nhăn khóe mắt, lông mày hơi sụp xuống, má hơi xệ, rãnh mũi - má mờ, góc mép miệng bị xệ xuống, tai hình như thấp xuống. Tuy nhiên, trong giai đoạn muộn có nhiều trường hợp mặt bệnh nhân khi không cử động nhìn thấy mặt vẫn cân đối, chỉ khi cử động mới thấy mất cân đối do cơ bên liệt bị co cứng.

Nhìn khi bệnh nhân cử động

Mặt và mắt mất cân đối rõ rệt hơn.

  • Bên bệnh không nhăn trán được, mắt không nhắm kín (dấu hiệu hở mi), không làm được động tác nhe răng, phồng má, mím môi, huýt sáo, thổi lửa, chau mày.
  • Dấu hiệu Charles - Bell dương tính: biểu hiện là khi bệnh nhân nhắm mắt chủ động, mắt bên liệt nhắm không kín, nhãn cầu vận động lên trên và ra ngoài (khi đó giác mạc lẩn dưới mi trên, củng mạc trắng lộ rõ giữa hai khe mi).
  • Dấu hiệu Negro: khi bệnh nhân ngước mắt nhìn lên trên, đồng tử bên tổn thương ở vị trí cao hơn bên lành.
  • Dấu hiệu Souques: trong khi nhắm hai mắt thì mắt bên bệnh nhắm không được chặt, lông mi của bên bệnh còn thò ra ngoài dài hơn bên lành.
  • Dấu hiệu Pierre Marie - Foix: phát hiện liệt mặt trong trường hợp bệnh nhân hôn mê. Thầy thuốc ấn mạnh vào hai góc hàm hoặc giật tóc mai của bệnh nhân, bệnh nhân sẽ nhăn mặt; khi đó nửa mặt bên lành sẽ co, còn bên liệt không có phản ứng gì.

Các triệu chứng khác

Liệt dây VII ngoại vi có thể đi kèm theo liệt nửa người kiểu trung ương bên đối diện như trong hội chứng Millard - Gubler hay hội chứng Foville cầu não dưới.

1.6. Điều trị và phục hồi chức năng Liệt Bell

Điều trị nội khoa

Các trường hợp nhẹ có thể hồi phục trong vòng 3-6 tuần hoặc nhanh hơn; các trường hợp nặng thời gian phục hồi chậm hơn, đôi khi để lại di chứng. Một số trường hợp chuyển sang co cứng các cơ bên mặt bị liệt làm mặt bệnh nhân bị co kéo lệch về bên liệt, nếp nhăn mũi - má sâu, khiến dễ lầm tưởng bên liệt là bên lành. Để đạt hiệu quả tối đa trong điều trị và phục hồi chức năng liệt dây thần kinh số VII ngoại vi cần phối hợp các nhóm thuốc sau và kết hợp với các biện pháp không dùng thuốc.

kết hợp y học hiện đại và chỉ định ngoại khoa điều trị liệt dây thần kinh số 7

Dùng thuốc: phối hợp các nhóm thuốc sau

  • Dùng corticoide đường tiêm hoặc uống, chỉ định càng sớm càng tốt để chống phù nề vì dây thần kinh số VII đi trong ống xương hẹp, phù nề gây chèn ép và thiếu nuôi dưỡng; điều trị muộn có thể dẫn đến thoái hóa dây thần kinh làm khó phục hồi.
  • Kháng sinh khi có nhiễm khuẩn hoặc kháng virus khi bị zona.
  • Dùng các thuốc giãn mạch, tăng biến dạng hồng cầu: cavinton, nootropin, vincamin, fonzilan…
  • Bảo vệ dây thần kinh: dùng sinh tố nhóm B liều cao như neurobion, H-5000, methylcoban.
  • Thuốc tăng dẫn truyền thần kinh: nivalin, paralyse.
  • Kích thích tái tạo bao myelin: nucleo - CMP forte, alton - CMP.
  • Dùng thuốc chống gốc tự do: vitamin E, tocopheron, eckhart Q10…

Các biện pháp không dùng thuốc

  • Các biện pháp vật lý trị liệu: điện di nivalin, hồng ngoại, sóng ngắn, điện xung dòng xung kích thích, xoa bóp.

Trường hợp bệnh nhân đến muộn bị liệt mặt co cứng dai dẳng, điều trị không kết quả: có thể tiêm cồn hủy dây thần kinh.

Dự phòng: Điều trị tích cực viêm tai giữa, viêm tai xương chũm; tránh nhiễm lạnh, tránh những nơi gió lùa; giữ ấm vùng cổ về mùa đông.

2. Liệt mặt theo Y học cổ truyền (Liệt Bell)

Phong hàn hay phong nhiệt tà thừa lúc chính khí hư tổn, vệ ngoại bất cố xâm phạm vào các kinh dương ở mặt dẫn đến sự lưu thông kinh khí mất bình thường, khí huyết không được điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng, không co lại được mà gây nên bệnh.

Thể phong hàn ở kinh lạc

Thường gặp trong liệt dây thần kinh VII do lạnh.

Triệu chứng: Sau khi bị lạnh xuất hiện miệng méo, mắt nhắm không kín, khó thổi lửa, huýt sáo, ăn uống nước trào ra bên liệt, nhân trung lệch về bên lành, nếp nhăn trán và rãnh mũi – má mờ hoặc mất bên liệt. Toàn thân có biểu hiện sợ gió, sợ lạnh, gai rét, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch phù khẩn.

cơ chế bệnh sinh y học cổ truyền về liệt dây thần kinh số 7

Chẩn đoán

  • Chẩn đoán bát cương: Biểu thực hàn.
  • Chẩn đoán kinh lạc: Bệnh tại các kinh dương trên mặt.
  • Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân (phong hàn).

Pháp: Khu phong tán hàn, ôn kinh hoạt lạc.

Điều trị bằng thuốc

Cổ phương: Đại tần giao thang

Khương hoạt 08g, Bạch thược 08g, Độc hoạt 08g, Xuyên khung 08g, Tần giao 08g, Đảng sâm 12g, Bạch chỉ 08g, Bạch linh 08g, Cam thảo 06g, Ngưu tất 12g, Bạch truật 12g, Thục địa 12g, Đương quy 08g, Hoàng cầm 08g.

Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Đối pháp lập phương

Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm thuốc theo pháp điều trị.

Nghiệm phương

Quế chi 06g, Cỏ xước 12g, Ké đầu ngựa 12g, Hương phụ 06g, Kê huyết đằng 12g, Trần bì 06g, Bạch chỉ 10g, Kinh giới 10g.

Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Điều trị không dùng thuốc

Châm cứu: châm tả các huyệt

Tại chỗ: Ế phong (TE.17), Nghinh hương (LI.20), Đồng tử liêu (GB.1), Địa thương (ST.4), Dương bạch (GB.14), Giáp xa (ST.6), Ngư yêu, Nhân trung (GV.26), Quyền liêu (SI.18), Thừa tương (CV.24).

Toàn thân: Bách hội (GV.20), Phong trì (GB.20), Hợp cốc (LI.4) bên đối diện.

Liệu trình: Lưu kim 20-30 phút/lần/ngày, từ 15 đến 20 ngày/liệu trình.

Các kỹ thuật châm

Điện châm, điện mãng châm, ôn điện châm, ôn châm.

Liệu trình: Lưu kim 20-30 phút/lần/ngày, từ 15 đến 20 ngày/liệu trình.

Cấy chỉ

Nghinh hương (LI.20), Quyền liêu (SI.18), Đồng tử liêu (GB.1), Dương bạch (GB.14), Phong trì (GB.20), Địa thương (ST.4), Giáp xa (ST.6), Hợp cốc (LI.4) bên đối diện.

Tùy tình trạng bệnh lý của người bệnh, thầy thuốc chọn công thức huyệt cấy chỉ phù hợp. Mỗi lần cấy chỉ có tác dụng khoảng từ 7 đến 15 ngày tùy loại chỉ; sau thời gian tự tiêu của chỉ có thể thực hiện liệu trình tiếp theo.

Xoa bóp bấm huyệt

Các thủ thuật xoa, day, miết, véo, bóp các cơ vùng đầu mặt cổ; ấn, bấm các huyệt giống như châm.

Xoa bóp 30 phút/lần/ngày. Một liệu trình điều trị từ 15 đến 20 ngày.

Thủy châm

Sử dụng các thuốc theo y lệnh có chỉ định tiêm bắp vào các huyệt như điện châm, ngày 1 lần, mỗi lần 2–3 huyệt.

Một liệu trình điều trị từ 15 đến 20 ngày.

Tùy từng trường hợp cụ thể, người thầy thuốc lựa chọn thuốc phù hợp với chẩn đoán.

Chú ý: Tổng số liệu trình điều trị có thể thay đổi tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi người bệnh.

Tác giả: BS.CK2 Huỳnh Tấn Vũ - Trưởng Đơn vị điều trị ban ngày Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM - Cơ sở 3

Giá tiền: 0
Khách không thể truy cập khóa học này, vui lòng đăng nhập.