Các loại ghi danh

Không phải cứ uống nhiều vitamin là tốt, thiếu gì mới cần bổ sung nấy | PGS Nguyễn Lân Hiếu
Dinh dưỡng
Chuyên Khoa Khác:
Loại khóa học: Bài giảng
Chứng nhận cấp bởi: NONE
Giới thiệu tổng quan Khóa Học:

Vitamin rất ít xuất hiện trong đơn thuốc của tôi. Không phải vì tôi coi vitamin là thực phẩm chức năng, mà trong nhiều trường hợp vitamin là thuốc thực sự, nên tôi chỉ kê khi có chỉ định. Câu chuyện về Vitamin rất thú vị xin được chia sẻ cùng quý vị.
Vào những năm 1870, bệnh beriberi (được dịch là yếu ớt) bùng phát ở Indonesia. Bác sĩ quân y Hà Lan Christiaan Eijkman phát hiện gà ăn gạo trắng đã xát vỏ cũng bị triệu chứng giống beriberi, còn gà ăn gạo lứt thì khỏe. Từ đó ông tìm ra chất bị mất khi xát gạo, sau này xác định là Thiamine hay vitamin B1, chất cần để tạo năng lượng từ tinh bột và bảo vệ lớp bao quanh dây thần kinh. Phát hiện này giúp ông nhận Nobel Y học năm 1929.
Từ "vitamine" là do Casimir Funk đặt năm 1912 từ vital amine, nghĩa là amin thiết yếu cho sự sống. Sau này, phát hiện một số chất, như vitamin C, không phải amin nên rút gọn thành vitamin.
Ví dụ về Vitamin C cũng rất hay. Nghiên cứu cho thấy với đa số mọi người, bổ sung vitamin C hàng ngày không giảm nguy cơ bị cảm lạnh, nhưng có thể làm cảm lạnh ngắn hơn một chút hoặc nhẹ hơn, và uống sau khi đã có triệu chứng thì không có ích. Những trường hợp hoạt động thể lực lớn như vận động viên marathon hoặc chiến sĩ ở môi trường lạnh, liều 200 mg trở lên mỗi ngày có thể giảm một nửa nguy cơ bị cảm cúm...
Để phân loại, có hai nhóm vitamin chính:
Vitamin tan trong dầu, bao gồm A, D, E, K, dự trữ trong mô mỡ, và tồn tại nhiều tuần đến nhiều tháng.
Vitamin tan trong nước, gồm: nhóm B phức (B1, B2 , B3, B5, B6, B7 biotin, B9, B12) và vitamin C. Vitamin tan truong nước không dự trữ lâu, thải nhanh qua nước tiểu nên cần nạp hàng ngày.
Để dễ nhớ tôi xin tóm tắt các loại Vitamin có mặt trong các loại thực phẩm và nhiệm vụ của nó để mọi người dễ tra cứu.
• Vitamin B1, thiamine: Chức năng tạo năng lượng và giữ cho tim, cơ và thần kinh hoạt động bình thường. Nguồn thực phẩm: bánh mì, ngũ cốc, mì ống tăng cường, thịt, cá, đậu, đậu nành, đậu Hà Lan và ngũ cốc nguyên hạt.
• Vitamin B2, riboflavin: Chức năng hỗ trợ thị lực khỏe mạnh và cần thiết để sản xuất hồng cầu. Nguồn thực phẩm: thịt, trứng, sữa, các loại hạt, đậu, rau lá xanh, bông cải xanh, măng tây và ngũ cốc tăng cường.
Vitamin B2 có màu vàng và phát huỳnh quang xanh vàng dưới ánh sáng. Khi cơ thể đã dùng đủ, phần dư thải qua nước tiểu làm nước tiểu vàng sáng sau khi uống. Chính vì lý do này tôi ít khi uống hoặc kê đơn multivitamin. “Thiếu gì bù nấy”, tôi lại xin nhắc lại.
• Vitamin B3, niacin: Chức năng là giúp cơ thể chuyển thức ăn thành năng lượng, quan trọng cho da và chức năng thần kinh khỏe mạnh. Nguồn thực phẩm: thịt, cá, ngũ cốc và đậu phộng.
• Vitamin B6, pyridoxine: rất quan trọng cho não và thần kinh hoạt động bình thường, giúp cơ thể tạo hồng cầu. Nguồn thực phẩm: khoai tây, chuối, đậu, hạt, các loại hạt, thịt, cá, trứng, rau chân vịt và ngũ cốc.
• Vitamin B9, folate: Chức năng giúp cơ thể tạo hồng cầu và DNA. Nguồn thực phẩm: đậu, rau lá xanh, măng tây, trái cây họ cam quýt, gia cầm và ngũ cốc.
• Vitamin B12, cobalamin: Chức năng giúp tạo hồng cầu và quan trọng cho chức năng tế bào thần kinh. Nguồn thực phẩm: thịt, cá, trứng, sữa.
Vitamin B12 là vitamin phức tạp nhất về mặt hóa học, chứa cobalt màu đỏ tươi, được phân lập năm 1948 từ gan. Nó chỉ có tự nhiên trong thực phẩm nguồn gốc động vật nên người ăn chay trường dễ thiếu. Hấp thu B12 cũng phức tạp: cần nhai, acid dạ dày giải phóng khỏi protein, cần intrinsic factor do tế bào thành dạ dày tiết ra rồi mới hấp thu ở ruột non, vì vậy người cắt dạ dày cũng dễ thiếu loại Vitamin này
• Vitamin C, ascorbic acid: Chức năng tạo collagen, củng cố xương và nướu, giúp hấp thu sắt và canxi. Nguồn thực phẩm: quả mọng đỏ, kiwi, ớt chuông đỏ hoặc xanh, cà chua, bông cải xanh, rau chân vịt, ổi, bưởi và cam. Ví dụ rõ nhất là ăn tốt hơn uống thuốc: 200mg Vitamin C chỉ tương đương 1 quả ổi to hoặc 1 quả cam lớn + ít ớt chuông là đủ đó ạ!
• Vitamin A: có nhiều trong gan động vật, lòng đỏ trứng, sữa nguyên kem, cá béo. Tiền vitamin A có nhiều trong cà rốt, khoai lang, bí đỏ, xoài, rau bina, rau ngót.
• Vitamin D: cá béo như cá hồi, cá thu, cá mòi, lòng đỏ trứng, gan cá, nấm, sữa tăng cường vitamin D, và được tạo ra khi da tiếp xúc nắng.
• Vitamin E: nhiều nhất trong chính dầu ăn như dầu hướng dương, dầu đậu nành, dầu ô liu, dầu lạc, cùng hạt hướng dương, hạnh nhân, đậu phộng, quả bơ.
• Vitamin K: K1 trong rau lá xanh đậm như cải bó xôi, cải xoăn, bông cải xanh, rau ngót và trong dầu đậu nành, dầu cải. K2 trong thực phẩm lên men như natto, phô mai, trứng, gan (cái này tôi đã viết kỹ trong bài dùng thuốc kháng Vitamin K)
Bổ sung qua thực phẩm hàng ngày là cách thức hấp thụ các loại Vitamin tốt nhất, còn khi dùng thuốc là "cực chẳng đã" đó ạ. Nếu bạn thích uống thuốc thì cần tìm hiểu trên nhãn mác của sản phẩm, còn nếu trên nhãn mác không ghi gì chắc chắn là hàng giả, không nên sử dụng.

Giá tiền: 0

Vitamin đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe, nhưng không phải ai cũng cần uống thêm mỗi ngày. PGS.TS.BS Nguyễn Lân Hiếu - Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, vitamin rất ít xuất hiện trong đơn thuốc của ông, bởi trong nhiều trường hợp, vitamin thực sự là thuốc và chỉ nên sử dụng khi có chỉ định. Theo chuyên gia, bổ sung vitamin qua thực phẩm hằng ngày vẫn là lựa chọn ưu tiên, thay vì lạm dụng các sản phẩm bổ sung.

Khách không thể truy cập khóa học này, vui lòng đăng nhập.